Tên gọi lan xang có nghĩa là gì

Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, vùng đất Bạc Liêu vẫn ngày càng trù phú do phù sa bồi lấn ra biển và hơn hết là nhờ sự “chung sức, đồng lòng” dựng xây quê hương của ba dân tộc Kinh, Khơme và Hoa.

Năm 1680, Mạc Cửu, một di thần nhà Minh ở Trung Quốc đến vùng Mang Khảm chiêu tập một số lưu dân người Việt, người Hoa cư trú ở Mang Khảm, Phú Quốc, Rạch Giá, Long Xuyên [Cà Mau], Luống Cày [Lũng Kỳ], Hưng úc [tức Vũng Thơm hay Kompong som], Cần Bột [Campốt] lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Liêu.  

Năm 1708, Mạc Cửu dâng vùng đất Mang Khảm cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên toàn bộ thôn xóm vùng này là trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu là Tổng binh trấn Hà Tiên, với tước Cửu Ngọc Hầu. Mạc Cửu lập dinh trại đồn trú tại Phương Thành, nhân dân quy tụ ngày càng đông.

Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhập thêm vùng đất Ba Thắc, lập ra Trấn Giang [Cần Thơ], Trấn Di [Sóc Trăng, Bạc Liêu]. Toàn bộ vùng đất phương Nam thuộc về chúa Nguyễn. Đến năm 1777, Trấn Giang, Trấn Di được bãi bỏ.

Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi. Năm 1808, trấn Gia Định đổi là thành Gia Định cai quản 5 trấn: Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Thanh [tức Vĩnh Long], Hà Tiên.

Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ thành Gia Định, chia Nam Kỳ thành lục tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, bao gồm đất từ Hà Tiên đến Cà Mau. Phần đất tỉnh An Giang, tính từ Châu Đốc đến Sóc Trăng và Bạc Liêu tính đến cửa biển Gành Hào.

Ngày 5-1-1867, thực dân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ. Đến ngày 5-6-1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 24 khu tham biện [inspection - có người dịch là khu thanh tra] do các viên thanh tra hành chính [inspecteur] đảm nhiệm.

Năm 1877, Pháp điều chỉnh Nam Kỳ còn 20 khu tham biện. Đến ngày 18-12-1882, Pháp cắt 3 tổng: Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Thuỷ của đại lý [Dlégation] Cà Mau thuộc địa hạt Rạch Giá [Arrondissement de Rach Gia] và hai tổng Thạnh Hoà, Thạnh Hưng của đại lý Châu Thành thuộc địa hạt Sóc Trăng và thành lập địa hạt Bạc Liêu [Arrondissement de Bạc Liêu]. Địa hạt Bạc Liêu là địa hạt thứ 21 của Nam Kỳ, lúc đầu có 2 đại lý: Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu.

Ngày 20-12-1899, toàn quyền Đông Dương ký sắc lệnh bỏ xưng danh địa hạt, đổi thành tỉnh, đại lý đổi thành quận. Ngày 1-1-1900, sắc lệnh trên được áp dụng cho toàn Nam Kỳ. 

Năm 1904, quận Vĩnh Lợi cắt một phần đất phía bắc nhập thêm vào quận Vĩnh Châu. Diện tích của tỉnh Bạc Liêu lúc này là 740 nghìn ha.

Năm 1918, chính quyền thực dân Pháp cắt một phần đất phía nam quận Vĩnh Lợi và một phần đất phía bắc quận Cà Mau thành lập quận Giá Rai.

Ngày 25-10-1955, Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 143/NV phân định lại địa phận hành chính các tỉnh miền Nam, sáp nhập các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu vào Sóc Trăng, thành lập tỉnh Ba Xuyên. Toàn bộ vùng đất quận Cà Mau lập thành tỉnh An Xuyên.

Ngày 8-9-1964, Ngụy quyền Sài Gòn ký Sắc lệnh số 254/NV tái lập tỉnh Bạc Liêu gồm các quận: Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu và Phước Long [Rạch Giá]. Địa  phận này tồn tại cho đến ngày 30-4-1975.

Về phía chính quyền cách mạng: việc phân chia địa giới hành chính tỉnh Bạc Liêu trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ khác hẳn chính quyền Sài Gòn. Năm 1947, quận Hồng Dân thuộc tỉnh Rạch Giá giao hai làng Vĩnh Hưng, Vĩnh Phú về quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Năm 1948, tỉnh Bạc Liêu giao quận Vĩnh Châu và làng Hưng Hội về tỉnh Sóc Trăng, đồng thời thành lập thêm quận mới lấy tên là quận Ngọc Hiển.

Ngày 13-11-1948, cắt 2 làng Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi để thành lập thị xã Bạc Liêu. Cùng thời điểm này, tỉnh Sóc Trăng giao làng Châu Thới về Bạc Liêu. Làng Châu Thới hợp nhất với làng Long Thạnh thành làng Thạnh Thới.

Năm 1951, thành lập thêm huyện Trần Văn Thời, gồm các xã: Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây, Trần Hợi, Hưng Mỹ, Khánh An, Khánh Lâm. Đồng thời, tỉnh Bạc Liêu tiếp nhận hai huyện An Biên, Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1955, huyện Vĩnh Châu được đưa về tỉnh Bạc Liêu, huyện An Biên và huyện Hồng Dân đưa về tỉnh Rạch Giá. Huyện Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu được tái lập.

Năm 1957, Liên Tỉnh uỷ miền Tây chia các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu về tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định hợp nhất huyện Vĩnh Châu và huyện Vĩnh Lợi, thành huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu.

Năm 1962, huyện Giá Rai sáp nhập vào tỉnh Cà Mau. Năm 1963, Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định tách huyện Vĩnh Châu khỏi huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu, thành lập huyện Vĩnh Châu.

Tháng 11-1973, Khu uỷ Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu.

Vào đầu năm 1976, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau thành tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau, đến gần giữa năm 1976 tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau đổi tên thành tỉnh Minh Hải.

Ngày 1-1-1997, tỉnh Bạc Liêu được tái lập lần thứ hai và giữ nguyên cho đến ngày nay.

Xuất xứ tên gọi Bạc Liêu

Danh xưng “Bạc Liêu”, đọc theo tiếng Trung, giọng Triều Châu là Pô Léo, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển. Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là  “Bạc” và Léo phát âm là “Liêu”.

Một giả thuyết khác cho rằng: Pô là bót, đồn. Liêu là Lào [Ai Lao] theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào.

Còn người Pháp, họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên gọi vùng đất này là Phêcheri - chaume [đánh cá và cỏ tranh]. Ngoài ra còn một số giả thuyết khác.

08:45, 01/12/2012 [GMT+7]

Hôm nọ, trên ti-vi có chương trình [hình như là Đấu trường 100 thì phải] hỏi một câu tưởng chừng rất lạ: Quốc gia duy nhất nào ở Đông Nam Á không giáp với biển? Tất nhiên câu hỏi không khó, nhưng lạ là ở chỗ, một kiến thức cơ bản như thế mà lâu nay ít người để ý tới. Với phương pháp loại suy, dễ dàng đưa ra được câu trả lời hợp lý nhất: đó là nước Lào.

Lào còn được biết đến với những cái tên khác như “đất nước Triệu Voi”, “xứ sở hoa Chăm-pa”. Hoa Chăm-pa, người Lào gọi là “dok Champa”, người Việt gọi là hoa sứ, quốc hoa của Lào, thì có lẽ không còn lạ gì, đã có nguyên một bài hát viết riêng tôn vinh. Còn “Triệu Voi” thì một người chuyên dịch sách Lào ở Đà Nẵng giảng rằng, đó là nghĩa tiếng Việt của từ Lan Xang, quốc hiệu của nhà nước Lào đầu tiên được một vị vua lập từ giữa thế kỷ XIV [Lan: triệu; Xang: voi]. Từ cổ của tiếng Việt mình gọi nước Lào là Vạn Tượng.

Với những người lần đầu bước chân đến Lào như ông Phan Đức Mỹ, còn gọi là Nam Hà, thì xứ sở hoa Chăm-pa nhiều điều mới lạ. Năm 1984, khi đang là Phó Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, ông được cử sang nước bạn làm chuyên gia an ninh phụ trách tỉnh Sekong. Trong cái lạ về ngôn ngữ, thực phẩm [người Lào ăn xôi], phong tục tập quán... ông vẫn tìm thấy ở đó những nét thân quen của những vùng quê nước mình bởi phần lớn người dân bản xứ đều biết tiếng Việt và xem chuyên gia Việt như người nhà.

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Đức Chuyển thì đã gặp một kẻ xa lạ, thậm chí là một “đối thủ” trên đất Lào, 40 năm sau gặp lại thành người quen. Tháng 6 năm 1971, sau trận đánh vào Bản Nhik trên đất Lào, ông cùng đồng đội phát hiện có nhiều lính địch chết và bị thương; trong đó có một người bị thương ở chân và bụng, là lính của một tiểu đoàn cực hữu Thái Lan sang tiếp viện. Ông liền lấy băng cá nhân, cùng y tá băng bó vết thương cho anh ta và thả đi.

Năm ngoái, khi Đại tá Chuyển cùng đoàn cựu quân tình nguyện đến thăm Thạc Luỗng, một thắng cảnh của Lào, thì gặp lại “đối thủ” năm xưa. Người này tay bắt mặt mừng, nói rất cảm kích bộ đội Việt Nam, gặp đoàn cựu chiến binh nào của Việt Nam cũng hỏi thăm mãi mà chừ mới gặp ân nhân xưa. Xem danh thiếp, mới hay “đối thủ” của ông giờ là Thiếu tướng cựu chiến binh ở Băng Cốc, Thái Lan. Trước khi chia tay, cùng hẹn lần sau sẽ gặp nhau tại Pakse - Lào hoặc Đà Nẵng - Việt Nam.

Pakse là tỉnh lỵ của Champasak, nơi người Việt ở đông nhất nước Lào hiện nay. Champasak cùng với Savannakhet, Saravane [còn gọi là Salavan], Sekong và Attapeu là 5 tỉnh thuộc Nam Lào. Vùng đất một thời còn khó khăn của nước bạn này đã in đậm dấu chân của các chuyên gia Việt Nam người Đà Nẵng. Ông Lê Văn Hùng, Trưởng ban Quản lý các dự án Nam Lào thành phố Đà Nẵng, từ một người cảm thấy xa lạ trên đất Lào, sau 13 năm đi về giữa Đà Nẵng và Nam Lào như đi chợ, nay đã nói tiếng Lào chẳng khác gì người bản xứ.

Ông Hùng từng được một già làng ở bản Noọng Đeng, tỉnh Saravane, đặt tên là Bun Thắng, tiếng Lào có nghĩa là may mắn; được buộc chỉ cổ tay trong một buổi lễ trang trọng và thân tình do Sở Nông nghiệp tỉnh Saravane tổ chức và già làng đứng ra làm chủ lễ. Vinh dự đó người Lào chỉ dành cho những người nước ngoài đã không còn ranh giới giữa chủ và khách.

Từ sau năm 1997, “đất nước Triệu Voi” đã ngày một trở nên thân quen đối với người dân Đà Nẵng. Từ đó, đã có nhiều chuyến viếng thăm, làm việc giữa lãnh đạo thành phố và các tỉnh của Lào; qua đó, hai bên đã ký kết nhiều văn bản thỏa thuận, văn bản ghi nhớ; triển khai hiệu quả nhiều dự án, chương trình hợp tác… Theo thống kê của Ban Quản lý các dự án Nam Lào thành phố Đà Nẵng, từ năm 1999 đến tháng 11-2012, thành phố đã triển khai 56 dự án hỗ trợ cho 5 tỉnh vùng Nam Lào với tổng kinh phí trên 60 tỷ đồng, trong đó đã tính học bổng cho sinh viên Lào đến năm 2015.

Những dự án của Đà Nẵng đã góp phần làm cho diện mạo của vùng Nam Lào nói riêng, “đất nước Triệu Voi” nói chung ngày một đổi thay. Dù xa trước ngõ cũng xa/ Dù gần Vĩnh Điện, La Qua cũng gần. Câu ca dao Quảng Nam-Đà Nẵng này sẽ vẫn vẹn nguyên ý nghĩa cao đẹp khi vận vào mối quan hệ giữa hai dân tộc Việt - Lào: Việt Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

VIÊN PHÚC QUÂN

Video liên quan

Chủ Đề